Các hình thái tư bản và lợi nhuận của chúng - Giáo trình kinh tế chính trị

Danh mục: Kinh tế chính trị

Các hình thái tư bản và lợi nhuận của chúng  - Giáo trình kinh tế chính trị 1. Tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp  a) Nguồn gốc tư bản thương nghiệp Tư bản thương nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Nó tồn tại trên cơ sở lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ. Trước chủ nghĩa tư bản, lợi nhuận của tư bản thương nghiệp chủ yếu là do mua rẻ, bán đắt. Trong chủ nghĩa tư bản, tư bản thương nghiệp là một bộ phận tư bản công nghiệp tách ra chuyên đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa. Như ...

Các hình thái tư bản và lợi nhuận của chúng  - Giáo trình kinh tế chính trị

1. Tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp 

a) Nguồn gốc tư bản thương nghiệp

Tư bản thương nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Nó tồn tại trên cơ sở lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ. Trước chủ nghĩa tư bản, lợi nhuận của tư bản thương nghiệp chủ yếu là do mua rẻ, bán đắt.

Trong chủ nghĩa tư bản, tư bản thương nghiệp là một bộ phận tư bản công nghiệp tách ra chuyên đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa. Như vậy, hoạt động của tư bản thương nghiệp chỉ là những hoạt động phục vụ cho quá trình thực hiện giá trị hàng hóa của tư bản công nghiệp. Công thức vận động của nó là: T - H - T'.

Tư bản thương nghiệp có đặc điểm vừa phụ thuộc vào tư bản công nghiệp, vừa có tính độc lập tương đối. Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ: tư bản thương nghiệp chỉ là một bộ phận của tư bản công nghiệp tách rời ra. Tính độc lập tương đối biểu hiện   ở chỗ: chức năng chuyển hóa cuối cùng của hàng hóa thành tiền trở thành  chức  năng  riêng  biệt  tách  khỏi  tư  bản  công  nghiệp,  nằm  trong  tay người khác. 

Khi tư bản thương nghiệp xuất hiện, nó có vai trò và lợi ích to lớn đối với xã hội, bởi vì: 

- Nhờ có thương nhân chuyên trách việc mua - bán hàng hóa nên lượng tư bản  ứng  vào  lưu  thông  và  chi  phí  lưu  thông  nhỏ  hơn  khi  những  người  sản  xuất trực tiếp đảm nhiệm chức năng này. 

-  Nhờ  có  thương  nhân  chuyên  trách  việc  mua  -  bán  hàng  hóa,  người  sản xuất có thể tập trung thời gian chăm lo việc sản xuất, giảm dự trữ sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng giá trị thặng dư. 

-  Nhờ  có  thương  nhân  chuyên  trách  việc  mua  -  bán  hàng  hóa,  sẽ  rút  ngắn thời  gian  lưu  thông,  tăng  nhanh  chu  chuyển  tư  bản,  từ  đó  tăng  tỷ  suất  và  khối lượng giá trị thặng dư hàng năm. 

b) Lợi nhuận thương nghiệp 

Tư  bản  thương  nghiệp  nếu  chỉ  giới  hạn  trong  việc  mua  và  bán  hàng  hóa (không kể đến việc chuyên chở, bảo quản, đóng gói) thì không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Nhưng là tư bản, nó chỉ có thể hoạt động với mục đích thu lợi nhuận. Vậy lợi nhuận thương nghiệp là gì? Do đâu mà có? 

Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong quá  

Tư bản công nghiệp "nhường" một phần giá trị thặng dư cho tư bản thương nghiệp  bằng  cách  bán  hàng  hóa  thấp  hơn  giá  trị  thực  tế  của  nó,  để  rồi  tư  bản thương nghiệp bán đúng giá trị, thu về lợi nhuận thương nghiệp. trình sản xuất mà tư bản công nghiệp nhường cho tư bản thương nghiệp, để tư bản thương  nghiệp  bán  hàng  hóa  cho  mình.  Lợi  nhuận  thương  nghiệp  là  hình  thức biến tướng của giá trị thặng dư. Nguồn gốc của nó cũng  là một bộ phận lao động không được trả công của công nhân. 

ví dụ: Sách giáo trình kinh tế chính trị Trang85

Việc  phân  phối  giá  trị  thặng  dư  giữa  nhà  tư  bản  công  nghiệp  và  tư  bản thương nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân thông qua cạnh tranh và thông qua chênh lệch giữa giá cả sản xuất cuối cùng (giá bán lẻ thương nghiệp) và giá cả sản xuất công nghiệp (giá bán buôn công nghiệp). 

2 . Tư bản cho vay và lợi tức cho vay

a) Sự hình thành tư bản cho vay 

Tư bản cho vay là một hình thức tư bản xuất hiện từ trước chủ nghĩa tư bản. Điều kiện tồn tại của tư bản cho vay là sản phẩm trở thành hàng hóa và tiền tệ đã phát triển các chức năng của mình. Trước chủ nghĩa tư bản, hình thức đặc trưng của tư bản cho vay là tư bản cho vay nặng lãi. Trong xã hội tư bản, tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi  mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được số tiền lời nào đó (gọi là lợi tức). 

Tư bản cho vay có đặc điểm:

  • Quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư bản. Đối với người cho vay nó là tư bản sở hữu, đối với người đi vay nó là tư bản sử dụng.
  • Tư bản cho vay là một hàng hóa đặc biệt, vì khi cho vay người bán không mất quyền sở hữu, còn người mua chỉ được mua quyền sử dụng trong thời gian nhất định. Và khi sử dụng thì giá trị của nó không mất đi mà còn tăng lên; giá cả của nó không do giá trị mà do giá trị sử dụng của tư bản cho vay, do khả năng tạo ra lợi tức của nó quyết định. Lợi tức chính là giá cả của hàng hóa tư bản cho vay.
  • Tư bản cho vay là tư bản được sùng bái nhất. Do vận động theo công thức T - T nên nó gây ấn tượng hình thức tiền có thể đẻ ra tiền.
  • Sự hình thành tư bản cho vay là kết quả của sự phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ đến một trình độ nhất định làm xuất hiện một quan hệ là: có nơi tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, có nơi lại thiếu tiền để hoạt động. Tư bản cho vay ra đời góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản, mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản. Do đó nó góp phần làm tăng thêm tổng giá trị thặng dư trong xã hội.

b) Lợi tức và tỷ suất lợi tức 

Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay trả cho tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định, ký hiệu là z.

Người cho vay và người đi vay thỏa thuận với nhau về tỷ suất lợi tức.

Tỷ suất lợi      tức  là  tỷ lệ phần    trăm  giữa   tổng số   lợi  tức  và số tư bản tiền     tệ cho vay trong một thời gian nhất định, ký hiệu là z'.

ty-le-loi-tuc

Sự phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và các quan hệ tín dụng đã làm xuất hiện công ty cổ phần. 

3. Công ty cổ phần, tư bản giả và thị trường chứng khoán

a) Công ty cổ phần 

Sự phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và các quan hệ tín dụng đã làm xuất hiện công ty cổ phần. Công ty cổ phần là loại xí nghiệp lớn mà vốn của nó hình thành từ việc liên kết nhiều tư bản cá biệt và các nguồn tiết kiệm cá nhân thông qua việc phát hành cổ phiếu. 

Cổ  phiếu  là  loại  chứng  khoán  có  giá,  bảo  đảm  cho  người  sở  hữu  nó  được quyền  nhận  một  phần  thu  nhập  của  công  ty  dưới  hình  thức  lợi  tức  cổ  phiếu (hay  cổ  tức).  Lợi  tức  cổ  phiếu  không  cố  định  mà  phụ  thuộc  vào  kết  quả  hoạt động của công ty. Về nguyên tắc, công ty cổ phần không hoàn lại vốn cho chủ cổ phiếu; cổ phiếu  bị mất giá trị khi công ty bị phá sản. Cổ phiếu có nhiều loại: cổ phiếu  thường;  cổ  phiếu  ưu  đãi;  cổ  phiếu  ghi  danh  (có  ghi  tên  người  mua);  cổ phiếu vô danh (không ghi tên người mua). 

Cổ phiếu được mua bán trên thị trường theo giá cả gọi là thị giá cổ phiếu. 

Thị giá cổ phiếu luôn biến động, một phần do sự biến động của tỷ suất lợi tức ngân hàng, một phần vì những đánh giá về tình hình hoạt động của công ty cổ phần, về lợi tức cổ phiếu dự đoán sẽ thu được. 

Người mua cổ phiếu gọi là cổ đông. Về mặt tổ chức và quản lý, đại hội cổ đông  là  cơ  quan  tối  cao  bầu  ra  hội  đồng  quản  trị  và  quyết  định  phương  hướng kinh  doanh  cùng  những  vấn  đề  quan  trọng  khác  trong  hoạt  động  của  công  ty. Phiếu biểu quyết trong đại hội cổ đông được quy định theo số lượng cổ phiếu, bởi vậy những nhà tư bản nắm được số cổ phiếu khống chế sẽ có khả năng thao túng mọi hoạt động của công ty. 

Ngoài cổ phiếu, khi cần vốn cho hoạt động kinh doanh, công ty cổ phần còn phát hành trái phiếu.

Khác với     cổ  phiếu,    trái phiếu    cho   người sở   hữu  nó có quyền    được  nhận một khoản lợi tức cố định và được hoàn trả vốn sau thời hạn ghi trên trái phiếu. Người mua trái phiếu không được tham gia đại hội cổ đông.

Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần là nguồn lợi lớn đối với các nhà tư bản. Nhờ nó mà tư bản được tập trung nhanh chóng và xuất hiện những xí nghiệp khổng lồ mà không một tư bản riêng lẻ nào đủ sức tạo nên. Đồng thời nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển tư bản đầu tư, tăng tính linh hoạt và cạnh tranh trong nền kinh tế.

b) Tư bản giả 

Tư bản giả là tư bản tồn tại dưới hình thức chứng khoán có giá, nó mang lại thu nhập cho người sở hữu chứng khoán đó.

Tư bản giả bao gồm hai loại chủ yếu: cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành và trái phiếu do công ty hoặc do ngân hàng hay nhà nước phát hành.

Tư bản giả có các đặc điểm sau:

  • Có thể mang lại thu nhập cho người sở hữu nó.
  • Có thể mua bán được.
  • Bản thân tư bản giả không có giá trị. Sự vận động của nó hoàn toàn tách rời với sự vận động của tư bản thật. Nó có thể tăng hay giảm mà không cần có sự thay đổi tương đương của tư bản thật.

c) Thị trường  chứng khoán 

Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, công trái, kỳ phiếu, tín phiếu, văn tự cầm cố, các loại chứng chỉ quỹ đầu tư...

Thị trường chứng khoán là thị trường mua bán các loại chứng khoán.

Thị trường chứng khoán là loại thị trường rất nhạy với các biến động kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự..., là "phong vũ biểu” của nền kinh tế. Giá cả chứng khoán tăng biểu  hiện nền      kinh    tế   đang phát triển,   ngược lại,   giá   cả xuống  biểu hiện nền kinh tế đang sa sút, khủng hoảng.

4. Tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa

a) Tư bản kinh doanh  nông nghiệp 

Trong nông nghiệp, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành chủ yếu theo hai con đường:

Một là, thông qua cải cách, dần dần chuyển kinh tế địa chủ phong kiến sang kinh doanh theo phương                                thức       tư      bản       chủ  nghĩa  (như  ở Đức,   Italia, Nga, Nhật

Bản...).

Hai là, thông qua cách mạng dân chủ tư sản, xoá bỏ kinh tế địa chủ phong kiến, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa (như ở Anh, Mỹ, Pháp...).

Đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp là chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất và độc quyền kinh doanh ruộng đất. Cả hai loại độc quyền ruộng đất đã ngăn cản tự do cạnh tranh trong nông nghiệp.

Về quan hệ xã hội đối với ruộng đất trong chủ nghĩa tư bản bao gồm ba giai cấp: địa chủ (độc quyền sở hữu ruộng đất), tư bản kinh doanh nông nghiệp (độc quyền kinh doanh ruộng đất) và giai cấp công nhân nông nghiệp.

b) Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa 

Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất. Do đó nhà tư bản phải trích một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho chủ đất dưới hình thức địa tô.

Như vậy, địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất.

c) Các hình thức địa tô tư  bản chủ nghĩa 

- Địa tô chênh lệch: 

Nông nghiệp có một số đặc điểm khác với công nghiệp, như số lượng ruộng đất  bị  giới  hạn;  độ  màu  mỡ  tự  nhiên  và  vị  trí  của  địa  lý  của  ruộng  đất  không giống nhau; các điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương ít biến động; nhu cầu hàng  hóa  nông  phẩm  ngày  càng  tăng.  Do  đó,  xã  hội  buộc  phải  canh  tác  trên  cả ruộng  đất xấu nhất  (về  độ  màu  mỡ  và  vị  trí  địa  lý).  Vì  vậy  mà  giá  cả  của  hàng hóa  nông  phẩm  được  hình  thành  trên  cơ  sở  điều  kiện  sản  xuất  xấu  nhất  chứ không phải  ở  điều kiện trung bình như trong công nghiệp. Vì thế, canh tác trên đất  tốt  và  trung  bình  sẽ  có  lợi  nhuận  siêu  ngạch.  Phần  lợi  nhuận  siêu  ngạch  này tồn tại thường xuyên, tương đối ổn định và chuyển hóa thành địa tô chênh lệch. 

Như vậy, địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch  giữa  giá  cả  sản  xuất  chung  được  quyết  định  bởi  điều  kiện  sản  xuất  trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng  đất tốt và trung bình (ký hiệu Rc1). 

Địa tô chênh lệch có hai loại: địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II. 

+ Địa tô chênh  lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất điều kiện tự nhiên thuận lợi. Chẳng hạn,  có độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt) và có vị trí địa lý gần nơi tiêu thụ hay gần đường giao thông. 

Ví dụ 1:

Địa tô chênh lệch I thu được trên những ruộng đất có độ màu mỡ tự nhiên trung bình và tốt (giả sử có P' = 20%).

Loại

ruộng

Tư bản đầu tư

P'

Sản lượng (tạ)

Giá cả s cá

ản xuất

biệt

Giá cả sản xuất chung

Địa tô chênh lệch

Của 1 tạ

Của tổng sản phẩm

Của 1 tạ

Của tổng sản phẩm

Tốt

100

20

6

20

120

30

180

60

T/bình

100

20

5

24

120

30

150

30

Xấu

100

20

4

30

120

30

120

0

Ví dụ 2: Địa tô chênh lệch I thu được trên những ruộng đất có vị trí thuận lợi như gần nơi tiêu thụ hay gần đường giao thông.

Vi trí

Tư bản

P

Sản

lượng

(tạ)

Chi phí

vận

chuyển

Tổng giá cả SX cá biệt

Giá cả SX cá

Giá cả sản xuất chung

Địa tô chênh lệch

ruộng đất

đầu tư

biệt 1 tạ

Của 1 tạ

Của tổng sản phẩm

- Gần thị

100

20

5

0

120

24

27

135

15

trường - Xa thị trường

100

20

5

15

135

27

27

135

0

                   

+ Địa tô chênh lệch II là loại địa tô thu được gắn liền với thâm canh tăng năng suất, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng một đơn vị diện tích.

Ví dụ 3:

Cần chú ý rằng, năng suất của lần đầu tư thêm phải lớn hơn năng suất của lần đầu tư trên ruộng xấu, thì khi đó mới có lợi nhuận siêu ngạch.

Loại

ruộng

Lần đầu tư

Tư bản đầu tư

Sản

Giá cả

Giá cả sản xuất chung

Địa tô

P

lượng

(tạ)

SX cá biệt 1 tạ

1 tạ

Tổng sản lượng

chênh

lệch

Cùng

Thứ 1

100

20

4

30

30

120

0

một

thửa

Thứ 2

100

20

20

6

20

30

180

60

ruộng

Thứ 3

100

8

15

30

240

120

Trong thời hạn hợp đồng, lợi nhuận siêu ngạch do đầu tư thâm canh đem lại thuộc nhà tư bản kinh doanh ruộng  đất. Chỉ  đến khi hết thời hạn hợp  đồng,  địa chủ mới tìm cách nâng giá cho thuê ruộng đất, tức biến lợi nhuận siêu ngạch do đầu  tư  thâm  canh  đem  lại  tức  là  địa  tô  chênh  lệch  II  thành  địa  tô  chênh  lệch  I. Tình  trạng  này  dẫn  đến  mâu  thuẫn:  nhà  tư  bản  thuê  đất  muốn  kéo  dài  thời  hạn thuê,  còn  địa  chủ  lại  muốn  rút  ngắn  thời  hạn  cho  thuê.  Do  đó,  trong  thời  gian thuê đất, nhà tư bản tìm mọi cách quay vòng, tận dụng, vắt kiệt độ màu mỡ đất đai. 

- Địa tô tuyệt đối:

Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp tuyệt đối phải nộp cho địa chủ, dù ruộng đất đó tốt hay xấu, ở xa hay gần.

Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên bởi chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm.

Ví dụ: Có hai tư bản trong nông nghiệp và trong công nghiệp đều là 100, cấu tạo hữu cơ tư bản trong nông nghiệp là 3/2, cấu tạo hữu cơ tư bản trong công nghiệp là 4/1. Giả sử m' = 100%, thì giá trị sản phẩm và giá trị thặng dư sản xuất ra trong từng lĩnh vực sẽ là:

Trong công nghiệp : 80c + 20v + 20m = 120

Trong nông nghiệp : 60c + 40v + 40m = 140

Giá trị thặng dư dôi ra trong nông nghiệp so với công nghiệp là: 20. Số chênh lệch này là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận siêu ngạch này không bị bình quân hoá mà chuyển hóa thành địa tô tuyệt đối.

Cơ  sở  của  địa  tô  tuyệt  đối  là  do  cấu  tạo  hữu  cơ  của  tư  bản  trong  nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp. Còn nguyên nhân tồn tại địa tô tuyệt đối là do chế  độ  độc quyền sở hữu ruộng  đất  đã ngăn cản nông nghiệp tham gia cạnh tranh giữa các ngành để hình thành lợi nhuận bình quân. 

- Địa tô độc quyền: 

Địa tô độc quyền là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa. Địa tô độc quyền có thể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và ở các khu đất trong thành thị.

Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền có ở các khu đất có tính chất đặc biệt, cho phép trồng các loại cây đặc sản hay sản xuất các sản phẩm đặc biệt. Trong công nghiệp khai thác, địa tô độc quyền có ở các vùng khai thác các kim loại, khoáng chất quý hiếm, hoặc những khoáng sản có nhu cầu vượt xa khả năng khai thác chúng. Trong thành thị, địa tô độc quyền có ở các khu đất có vị trí thuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nhà cho thuê có khả năng thu lợi nhuận cao.

Nguồn gốc của địa tô độc quyền cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cả độc

Nguồn gốc của địa tô độc quyền cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cả độc quyền của sản phẩm thu được trên đất đai ấy, mà nhà tư bản phải nộp cho địa chủ. 

d) Giá cả ruộng đất 

Ruộng đất trong xã hội tư bản không chỉ cho thuê mà còn được bán. Giá cả ruộng đất là một phạm trù kinh tế bất hợp lý, nhưng nó ẩn dấu một quan hệ kinh tế hiện thực. 

Giá cả ruộng đất là hình thức địa tô tư bản hoá. Bởi ruộng đất đem lại địa tô, tức là đem lại một thu nhập ổn định bằng tiền nên nó được xem như một loại tư bản đặc biệt. Còn địa tô chính là lợi tức của tư bản đó. Do vậy giá cả ruộng đất chỉ là giá mua địa tô do ruộng đất mang lại theo tỷ suất lợi tức hiện hành. Nó tỷ lệ thuận với địa tô và tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức tư bản gửi vào ngân hàng. 

dia-to-ruong-dat

Các bài nên tham khảo

Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên.

Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu của người trực tiếp sản xuất mà đáp ứng nhu cầu của XH thông ...

Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.

Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi buôn bán. Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình như sắt, thép, thực ...

Phân tích lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá.

Giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá. Vậy lượng lao động của hàng hoá được đo bằng lượng lao động tiêu hao để ...

Phân tích nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ.

Tiền ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả ...

Phân tích nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn. Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản?

Quy luật giá trị là quy luật giá trị cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá ...

Thế nào là thị trường? Mối quan hệ giữa phân công lao động XH với thị trường. Phân tích các chức năng của thị trường.

Theo nghĩa hẹp thì thị trường là nơi diễn ra trao đổi, mua bán hàng hoá. Nhưng theo nghĩa rộng thì thị trường là tổng thể các mối quan hệ cạnh tranh, cung - ...

Cạnh tranh là gì? Tại sao cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá? Những tác động tích cực và tiêu cực của cạnh tranh?

Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu ...

Cung, cầu là gì? Quan hệ cung - cầu? Tại sao cung - cầu là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá?

Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất ...

Phân tích sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản. Những điều kiện để tiền tệ có thể thành tư bản.

Tiền trong lưu thông hàng hoá giản đơn vận động theo công thức: H – T – H’, tức là bắt đầu bằng hành vi bán (H - T) và kết thúc bằng hành vi mua (T – H), kết ...

Phân tích hàng hoá sức lao động.

Sức lao động là tổng hợp toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất. Trong mọi xã hội, sức lao động đều là yếu ...

Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ